Nhằm tiếp tục thể chế hóa các quy định của Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 và Luật Viên chức năm 2025, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của khu vực sự nghiệp công. Ngày 28/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 299/2026/NĐ-CP quy định tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế Nghị định số 120/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 và Nghị định số 283/2025/NĐ-CP ngày 31/10/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
Nghị định 299/2026/NĐ-CP quy định phạm vi điều chỉnh đối với việc thành lập, tổ chức lại, giải thể, chuyển giao, phân loại, xếp hạng và tự chủ về tổ chức bộ máy của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đối tượng áp dụng bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ; đơn vị thuộc phạm vi quản lý của UBND cấp tỉnh và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc UBND cấp xã, không áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng. Đây là lần đầu tiên các nội dung về tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập được quy định một cách tương đối toàn diện trong một nghị định thống nhất, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và yêu cầu cải cách tổ chức bộ máy hiện nay.

Trung tâm Lưu trữ lịch sử thành phố Đồng Nai, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Nội vụ
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định là quy định cụ thể hơn về nguyên tắc thành lập, tổ chức lại, giải thể và chuyển giao đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, việc thành lập hoặc tổ chức lại phải bảo đảm đúng điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định; phù hợp với quy hoạch ngành, phương án phát triển mạng lưới đơn vị sự nghiệp công lập và yêu cầu thực tiễn của từng ngành, từng địa phương. Đặc biệt, việc thành lập mới phải gắn với yêu cầu nâng cao mức độ tự chủ tài chính, hạn chế phát sinh đầu mối và tăng biên chế hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Nghị định cũng quy định rõ các điều kiện thành lập, tổ chức lại và giải thể đơn vị sự nghiệp công lập:
Về điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định quy định rõ các đơn vị sự nghiệp công lập thành lập mới phải phù hợp với quy hoạch ngành (nếu có) hoặc phương án phát triển mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Đáp ứng tiêu chí, điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành (trừ đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu đa ngành, đa lĩnh vực, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội tại địa bàn cấp xã); Xác định rõ mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; Đảm bảo số lượng người làm việc tối thiểu được giao là 15 người (trừ các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu được thành lập theo quy định của pháp luật chuyên ngành). Riêng Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập các đơn vị này thì số lượng người làm việc được xác định theo đề án thành lập được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài thì số lượng người làm việc xác định trong đề án thành lập đơn vị sự nghiệp công lập được phê duyệt.
Cũng theo Nghị định 299/2026/NĐ-CP, các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập mới phải tự bảo đảm chi thường xuyên trở lên (trừ trường hợp thành lập mới để cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu). Riêng đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư, khi thành lập mới đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc (kể cả trường hợp cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu) phải tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư.
Nghị định cũng quy định cụ thể các trường hợp được tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập. Theo đó, đơn vị được tổ chức lại khi có điều chỉnh về tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhằm phù hợp với quy hoạch hoặc phương án phát triển mạng lưới; khi không còn đáp ứng điều kiện thành lập; hoặc không bảo đảm mức độ tự chủ tài chính theo phương án đã được phê duyệt, trừ các trường hợp thay đổi chức năng, nhiệm vụ hoặc có biến động khách quan làm ảnh hưởng đến nguồn thu, nhiệm vụ chi.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài, việc tổ chức lại còn phải bảo đảm phù hợp với chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và điều ước quốc tế giữa Việt Nam và nước sở tại.
Đối với việc giải thể, đơn vị sự nghiệp công lập giải thể khi thuộc một trong các trường hợp: không còn chức năng, nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công phục vụ xã hội, hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước; không đáp ứng đủ điều kiện thành lập đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định; Ba năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ; thực hiện theo quy hoạch ngành hoặc phương án phát triển mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực.
Bên cạnh việc quy định về thành lập và tổ chức lại, giải thể Nghị định 299/2026/NĐ-CP cũng xác lập nguyên tắc quản lý tổ chức bộ máy theo hướng phù hợp với mức độ tự chủ tài chính của từng loại đơn vị.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên, số lượng cấp phó của người đứng đầu được thực hiện theo đề án thành lập hoặc đề án tự chủ đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, số lượng cấp phó của các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ được bố trí bình quân không quá 3 người trên một đơn vị. Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ (trừ các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của bộ) và Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có số lượng người làm việc được giao từ 20 người trở xuống được bố trí không quá 02 cấp phó; có số lượng người làm việc được giao từ trên 20 người được bố trí không quá 03 cấp phó. Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cục và tương đương thuộc bộ; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc chi cục và tương đương thuộc cục thuộc bộ; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Văn phòng thuộc bộ; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc chi cục và tương đương thuộc sở; Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được bố trí không quá 02 cấp phó. Đối với bệnh viện hạng I trở lên; đơn vị sự nghiệp y tế làm nhiệm vụ kiểm soát và phòng chống bệnh tật tuyến tỉnh hạng I trở lên; trường phổ thông có nhiều cấp học có quy mô từ 40 lớp trở lên thì được bố trí không quá 03 cấp phó.
Đối với phòng thuộc đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên, số lượng cấp phó cũng được thực hiện theo đề án thành lập hoặc đề án tự chủ đã được phê duyệt.
Riêng phòng thuộc đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên hoặc do ngân sách nhà nước bảo đảm chi thường xuyên, Nghị định quy định rõ: Phòng có từ 7 đến 9 người làm việc được bố trí 1 Phó Trưởng phòng; phòng có từ 10 người trở lên được bố trí không quá 2 Phó Trưởng phòng.
Trường hợp thực hiện tổ chức lại đơn vị sự nghiệp công lập dẫn đến số lượng cấp phó của người đứng đầu đơn vị hoặc các tổ chức bên trong vượt quá quy định, thì chậm nhất là 05 năm kể từ ngày quyết định tổ chức lại có hiệu lực, đơn vị phải hoàn thành việc sắp xếp nhân sự để đưa số lượng cấp phó về đúng khung quy định.
Về phân loại đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định quy định bốn nhóm tiêu chí gồm: vị trí pháp lý của đơn vị; ngành, lĩnh vực cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; tính chất nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công và mức độ tự chủ tài chính theo quy định của pháp luật. Theo đó, đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại theo các ngành, lĩnh vực như giáo dục và đào tạo; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và các lĩnh vực khác; hoặc cung cấp dịch vụ sự nghiệp công đa ngành, đa lĩnh vực. Đồng thời, các đơn vị cũng được phân loại theo tính chất phục vụ xã hội hoặc hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Đối với việc xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập, Nghị định quy định hệ thống tiêu chí đánh giá gồm: quy mô tổ chức và khối lượng công việc; cơ cấu, trình độ lao động và mức độ phức tạp trong quản lý; hạ tầng cơ sở vật chất, mức độ hiện đại hóa và mức độ số hóa; hiệu quả hoạt động, chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, mức độ hài lòng của người dân, hiệu quả quản lý tài chính và mức độ tự chủ tài chính.
Đáng chú ý, tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động được bổ sung yêu cầu về ứng dụng công nghệ số để người dân trực tiếp đánh giá chất lượng, hiệu quả và mức độ hài lòng đối với dịch vụ sự nghiệp công, đồng thời cho phép bổ sung các tiêu chí đặc thù theo từng ngành, lĩnh vực khi cần thiết.
Các quy định về phân loại và xếp hạng đơn vị sự nghiệp công lập nhằm làm cơ sở xác định cơ chế quản lý, mức độ tự chủ, tổ chức bộ máy và quản lý đội ngũ viên chức; góp phần nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, đồng thời tạo điều kiện để các đơn vị phát huy tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức và hoạt động.
Việc ban hành Nghị định số 299/2026/NĐ-CP là bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập, đáp ứng yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đồng thời thúc đẩy cơ chế tự chủ, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới./.